Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong hai bài Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Văn mẫu lớp 9

Danh mục: Soạn văn , Soạn văn tập 1

Đánh giá bài viết Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong hai bài Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài làm 1 của một bạn học sinh chuyên Văn tỉnh Thái Bình Từ buổi đầu dựng nước đến nay, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, Trong đó phải kể đến hai cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ vô cùng gian khổ. Cứ mỗi lúc đất nước gặp ...

Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong hai bài Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài làm 1 của một bạn học sinh chuyên Văn tỉnh Thái Bình

Từ buổi đầu dựng nước đến nay, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, Trong đó phải kể đến hai cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ vô cùng gian khổ. Cứ mỗi lúc đất nước gặp hiểm nguy, thanh niên Việt Nam lại nô nức lên đường theo tiếng gọi cùa Tổ quốc. Và họ đã trở thành những biểu tượng người lính dũng cảm, kiên cường được khắc hoạ chân thực trong hai tác phẩm Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.

Ở hai thời kì khác nhau, dưới hai ngòi bút khác nhau, những người lính cách mạng trong hai bài thơ đều mang trong mình phẩm chất bộ đội Cụ Hồ, anh dũng, gan dạ và lòng yêu Tổ quốc sâu nặng. Họ là những người cùng chung lí tưởng, cách mạng cao đẹp là nguyện phấn đấu, hi sinh vì Tồ quốc, vì độc lập tự do của dân tộc. Đặc biệt, sau hơn hai mươi năm từ khi Đồng chí được ra đời thì lớp đàn con, đàn cháu của nhửng người lính thời chống Pháp từng súng bên súng, đầu sát bên đầu hay thương nhau tay nắm lấy bàn tay vẫn giữ trong mình truyền thống, tình đồng đội thiêng liêng, cao cả. Từ trong mưa bom, bão đạn của chiến tranh, những chiếc xe không kính lại hội tụ về đây họp thành tiểu đội xe không kính:

Những chiếc xe trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

 Bắt tay qua của kính vỡ rồi.

Từ những cái bắt tay ấy, họ trao cho nhau cả niềm tin, hi vọng và sức mạnh. Nhưng, điểm khác ở họ là ý thức giác ngộ cách mạng. Những năm đầu chống Pháp, chính quyền ta vừa thành lập còn non trẻ nên về nhận thức chiến tranh của những người lính còn đơn giản, chưa sâu sắc như thời chống Pháp.

Và nếu như trong Đồng chí: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh – Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi thì trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính những chiến sĩ lái xe phải tắm trong mưa bom, bão đạn, phải chịu sự dày vò của thời tiết trên tuyến đường Trường Sơn hiểm trở: Bụi phun tóc trắng như người già, Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời. Nhưng họ vẫn bất chấp, hiên ngang để vượt qua tất cả, họ vẫn thật lạc quan, yêu đời, và tinh nghịch, vẫn giữ trong mình một phong cách rất lính. Và gia đình của họ là ở nơi chiến hào, với đồng đội thân yêu, chứ không phải là ở hậu phương, nơi có mẹ già, vợ dại, con thơ như những chiến sĩ trong tác phẩm Đồng chí.

Vậy là dù có ở đâu, trong thời điểm nào ta vẫn cảm thấy sự anh dũng đáng khâm phục, bất chấp khó khăn gian khổ của chiến tranh. Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đã hoá thân vào các chiến sĩ Việt Nam để khắc hoạ thật sinh động hình ảnh của họ. Để lại cho đời những bức chân dung tuyệt đẹp.

Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong hai bài Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài làm 2

Trong văn học Việt Nam hiện đại, hình ảnh người lính cầm súng bảo vệ tổ quốc thực sự quan trọng, hình ảnh về anh bộ đội cụ hồ trong những năm đầu chống thực dân Pháp và chiến sĩ giải phóng quân miền Nam thời kỳ đánh Mỹ đã được phản ánh khá là rõ net cùng với những vẻ đẹp khác nhau và nó được thể hiện rõ qua hai bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.

Bài thơ Đồng chí được sáng tác vào năm 1948, được in trong tập đầu súng trăng treo. Hình ảnh về người nông dân cầm súng đã được miêu tả ở trong bài thơ cùng với vẻ đẹp mộc mạc, bình dị nhưng cũng thực sự bay bổng.

Đều là những người nông dân quanh năm lam lũ vơi ruộng đồng, nghe theo tiếng gọi cứu nước, các anh đã tình nguyện giã từ quê hương đi chiến đấu , trong họ rất giàu lòng yêu nước. Họ hiểu đơn giản rằng chiến đấu là bảo vệ cho chính mình và quê hương mái ấm của mình.

Sự gian nan vất vả, vào sống ra chết đã khẳng định được phẩm chất cao đẹp của những người áo vải. Từ bốn phương trời, không hẹn nhưng họ lại gặp nhau và trở thành đồng đội, đồng chí của nhau.

Họ quyết tâm dứt khoát ra đi là thế nhưng cũng không khỏi nhớ tới quê hương, gia đinh. Nỗi nhớ của các chiến sĩ thực sự đơn giản và cụ thể biết bao nhiêu : “ruộng nương, giếng nước, gốc đa, mái tranh… “ đều là nơi gắn liền với nơi chôn rau cắt rốn chỗ miền quê nghèo.

Bài thơ kết thúc bằng một hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng rất sâu sắc:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”.

 Đó là hình ảnh đơn sơ mộc mạc nhưng đồng thời là lời ca về tình đồng chí thiêng liêng giữa con người đang kề vai sát cánh cùng nhau bảo vệ tổ quốc, mang lại cuộc sống thanh bình cho toàn dân tộc.

Nếu như bài đồng chí nói về hình ảnh của người lính cụ Hồ ở trong kháng chiến chống Pháp thì bài thơ về tiểu đội xe không kính là hình ảnh của người lính giải phóng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ và quyết liệt.

Người chiến sĩ lái xe ở trên đường Trường sơn vô cùng dung cảm, có sức chịu đựng gian khổ nhưng cũng tràn đầy tinh thần lạc quan .

Đối đầu với máy bay của giặc Mĩ thì các chiến sĩ lái xe của ta thường ở thế bị động nhưng nhờ vào niềm tin tất thắng đấu tranh giải phóng Miền nam, là chân lí “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt dân tộc khảng khái tuyên ngôn. Họ hiểu rằng chiến trường và đồng đội đang cần vũ khí, lương thực, thuốc men… để đủ sức đánh trả quân thù những đòn đích đáng. Chủ quyền độc lập, tự do thiêng liêng của Tổ quốc, của dân tộc thôi thúc họ hành động.

Mỗi sự gian nan vất vả đều được nhà thơ Phạm Tiến Duật miêu tả bằng những hình ảnh hết sức chân thực, giản dị nhưng lại để lại được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Các chiến sĩ lái xe chấp nhận những khó khăn đó với thái độ vui vẻ, phớt lờ, có pha chút cá tính, ngang tàng.

Đoạn kết của bài thơ thật đẹp, chất hiện thực cũng nghiệp ngã và bay bổng cùng hòa quyện với nhau :

“Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước.

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước,

Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

 Chiếc xe vận tải quân sự: không kính, không đèn, không mui, thùng xe đầy vết xước do bom đạn giặc. Nhưng xe vẫn chạy đều hướng vào Miền nam thân yêu bởi trong xe luôn có một trái tim đầy nhiệt huyết, đầy trách nhiệm. Hình ảnh trái tim ở trong câu thơ là hình ảnh hoán dụ nghệ thuật rất có ý nghĩa nhằm tôn vinh tầm vóc của những người chiến sĩ lái xe anh hùng và nâng cao lên giá trị về nội dung cả nghệ thuật của bài thơ.

Bài thơ tiểu đội xe không kính là bài thơ mang đậm chất trữ tình cách mạng, tác giả đã khắc họa hình ảnh người lính bằng chính tấm lòng cảm phục và mến thương sâu sắc.

Họ là những người tự nguyện dấn thân, vui vẻ trong gian khổ. Với ngôn ngữ giản dị giàu sức gợi cảm sáng tạo, nhịp thơ phong khoáng đã làm nên một cái cái, cái đẹp cho bài thơ.

Hai bài thơ của nhà thơ chiến sĩ được sáng tác trong hai hoàn cảnh và ở thời điểm khác nhau nhưng lại cùng chung bút pháp lãng mạn và hiện thực sâu sắc nhằm mục đích ca ngợi vẻ đẹp của người chiến sĩ trong việc chiến tranh giữ nước.

Phạm Tiến Duật và Chính Hữu là hai nhà thơ đã từng sống và trải qua sự khốc liệt, hiểm nguy của chiến tranh, có lẽ chính vì thế hai nhà thơ này đã sáng tác ra Bài thơ về tiểu đội xe không kính và Đồng chí hay đến vậy.

Cả hai bài thơ đều ca ngợi những tấm gương yêu nước, bất chấp những khó khăn, gian khổ vì một lòng muốn bảo vệ Tổ quốc. Họ đều có những lí tưởng sống thật cao đẹp, vĩ đại, họ là những con người vì nước quên mình, sống trong chiến tranh vẫn ấm áp tình đồng đội (Đồng chí) vẫn lạc quan yêu đời (Bài thơ về tiểu đội xa không kính), ở Đồng chí toát lên sự mộc mạc, sự ấm áp của tình đồng đội, của những người anh em cùng một hoàn cảnh nghèo khó, nhưng họ vẫn luôn sát cánh bên nhau trong lúc gian khổ nhất, lúc ốm đau, bệnh tật họ đều có nhau. Còn ở Bài thơ về tiểu đội xe không kính thì ta lại thấy có sự sôi nổi, ung dung lạc quan yêu đời của người lính lái xe tuy không có đảm bảo về phương tiện nhưng họ vẫn ung dung, bất chấp hiểm nguy. Cả hai bài thơ đều nói lên được sự dũng cảm của những người lính Cụ Hồ ở trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Đọc hai bài thơ, ta thấy được những phẩm chất đẹp của họ nhưng đọc bài Đồng chí ta thấy có sự sâu lắng, trầm tư, còn ở Bài thơ về tiểu đội xe không kính thì giọng điệu sôi nổi, lạc quan. Đó chính là sự khác nhau giữa những người lính chống Pháp và những người lính chống Mĩ. Những người lính chống Pháp thì ra đi theo sự bắt buộc bảo vệ đất nước còn những người lính chống Mĩ ra đi theo tiếng gọi bảo vệ hoà bình, bảo vệ đất nước nên họ có sự lạc quan, yêu đời, vô tư. Ý thức của những người lính chống Mĩ giác ngộ cao hơn, sẵn sàng bất chấp hiểm nguy mà không hề tiếc nuối, không có sự băn khoăn. Họ cũng có khó khăn thiếu thốn nhưng vượt lên trên tất cả họ đều chiến đấu vì Tổ quốc, vì quê nhà. Bằng những phương pháp miêu tả, tự sự, biểu cảm, hai tác giả đều khắc hoạ được hình tượng của người lính vừa đẹp vừa chân thực, mộc mạc.

Những bài thơ đó sẽ đi sâu vào tâm thức và tinh thần của mọi người. Nó như là một sức mạnh mãnh liệt thúc đẩy, giúp họ chiến thắng những khó khăn, gian khổ của chiến tranh.

Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong hai bài Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài làm 3

Phạm Tiến Duật và Chính Hữu là hai nhà thơ đã từng sống và trải qua sự khốc liệt, hiểm nguy của chiến tranh, có lẽ chính vì thế hai nhà thơ này đã sáng tác ra Bài thơ về tiểu đội xe không kính và Đồng chí hay đến vậy.

Cả hai bài thơ đều ca ngợi những tấm gương yêu nước, bất chấp những khó khăn, gian khổ vì một lòng muốn bảo vệ Tổ quốc. Họ đều có những lí tưởng sống thật cao đẹp, vĩ đại, họ là những con người vì nước quên mình, sống trong chiến tranh vẫn ấm áp tình đồng đội (Đồng chí) vẫn lạc quan yêu đời (Bài thơ về tiểu đội xa không kính), ở Đồng chí toát lên sự mộc mạc, sự ấm áp của tình đồng đội, của những người anh em cùng một hoàn cảnh nghèo khó, nhưng họ vẫn luôn sát cánh bên nhau trong lúc gian khổ nhất, lúc ốm đau, bệnh tật họ đều có nhau. Còn ở Bài thơ về tiểu đội xe không kính thì ta lại thấy có sự sôi nổi, ung dung lạc quan yêu đời của người lính lái xe tuy không có đảm bảo về phương tiện nhưng họ vẫn ung dung, bất chấp hiểm nguy. Cả hai bài thơ đều nói lên được sự dũng cảm của những người lính Cụ Hồ ở trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Đọc hai bài thơ, ta thấy được những phẩm chất đẹp của họ nhưng đọc bài Đồng chí ta thấy có sự sâu lắng, trầm tư, còn ở Bài thơ về tiểu đội xe không kính thì giọng điệu sôi nổi, lạc quan. Đó chính là sự khác nhau giữa những người lính chống Pháp và những người lính chống Mĩ. Những người lính chống Pháp thì ra đi theo sự bắt buộc bảo vệ đất nước còn những người lính chống Mĩ ra đi theo tiếng gọi bảo vệ hoà bình, bảo vệ đất nước nên họ có sự lạc quan, yêu đời, vô tư. Ý thức của những người lính chống Mĩ giác ngộ cao hơn, sẵn sàng bất chấp hiểm nguy mà không hề tiếc nuối, không có sự băn khoăn. Họ cũng có khó khăn thiếu thốn nhưng vượt lên trên tất cả họ đều chiến đấu vì Tổ quốc, vì quê nhà. Bằng những phương pháp miêu tả, tự sự, biểu cảm, hai tác giả đều khắc hoạ được hình tượng của người lính vừa đẹp vừa chân thực, mộc mạc.

Những bài thơ đó sẽ đi sâu vào tâm thức và tinh thần của mọi người. Nó như là một sức mạnh mãnh liệt thúc đẩy, giúp họ chiến thắng những khó khăn, gian khổ của chiến tranh.

Các bài nên tham khảo

Soạn bài chương trình địa phương phần tiếng Việt lớp 6

Soạn bài chương trình địa phương (phần tiếng Việt) RÈN LUYỆN CHÍNH TẢ I. Nội dung luyện tập Học sinh ở mỗi miền hãy đọc kĩ SGK trang 166 và 167 để thấy những ...

Soạn bài ôn tập phần tập làm văn

ÔN TẬP PHẦN TẬP LÀM VĂN I. VĂN BẢN BIỂU CẢM 1. Các bài văn biểu cảm - Cổng trường mở ra Lý Lan - Trường học Ét-môn-đô đơ A-mi-xi - Mẹ tôi Ét-môn-đô đỡ A-mi-xi - ...

Soạn bài ôn tập kiểm tra phần tiếng Việt lớp 8 HK 1

Soạn bài ôn tập kiểm tra phần tiếng Việt lớp 8 HK 1 I. Từ vựng 1. Lý thuyết. a. Trường từ vựng: là tập hợp tất cả các từ có nét chung. Về nghĩa (xem lại bài 2 ...

Soạn bài Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang

Soạn bài Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Bài văn có thể chia làm bốn phần. Phần 1 (đoạn 1) : mở đầu. Phần 2 (đoạn 2, 3) : trang phục của ...

Soạn bài nghĩa tường minh và hàm ý tiếp theo

Soạn bài nghĩa tường minh và hàm ý tiếp theo I. Điều kiện sử dụng hàm ý. 1. Câu nói thứ nhất của chị Dậu có hàm ý là ’’Sau bữa ăn này con không còn ...

Soạn bài ôn tập tiếng việt lớp 9 HK 2

Soạn bài ôn tập tiếng việt lớp 9 HK 2 I. Khởi ngữ và các thành phần biệt lập Câu 1 : Khởi ngữ Các thành phần biệt lập Tình thái Cảm thán Gọi – đáp Phụ chú Xây ...

Soạn bài những ngôi sao xa xôi

Soạn bài những ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Tóm tắt nội dung tác phẩm : Ba nữ thanh niên xung phong thuộc tổ trinh sát mặt đường tại ...

Soạn bài tiếng nói của văn nghệ

Soạn bài tiếng nói của văn nghệ Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Bài viết có bố cục khá chặt chẽ, được thể hiện qua hệ thống luận điểm logic, mạch lạc. Giữa các luận ...

Soạn bài các thành phần biệt lập tình thái, cảm thán

Soạn bài các thành phần biệt lập tình thái, cảm thán I. Thành phần tình thái 1. Chắc, có lẽ là nhận định của người nói đối với sự việc đượ nói trong câu, thể ...

Soạn bài ôn tập thơ lớp 9 học kì 2

Soạn bài ôn tập thơ Bài tập 1. Lập bảng kê các tác phẩm thơ hiện đại ở Ngữ văn 9. STT Tên bài thơ Tác giả Năm sáng tác Thể thơ Tóm tắt nội dung Đặc sắc nghệ ...

Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ